Máy Tính Subnet

Nhập địa chỉ IP kèm prefix hoặc subnet mask để tính subnet: địa chỉ mạng, broadcast, dải host dùng được và wildcard mask, từng bit một. Máy tính subnet IPv4 và IPv6 này còn chia subnet online, lập kế hoạch VLSM và áp dụng quy tắc của các cloud.

Phép tính theo RFC 4632 và RFC 3021 · sổ đăng ký địa chỉ đặc biệt của IANA · tài liệu chính thức của từng cloud · chạy ngay trong trình duyệt của bạn

Gõ theo bất kỳ dạng nào bạn đang có: CIDR, mask hoặc wildcard kiểu Cisco sau địa chỉ, một dải có dấu gạch ngang, hoặc IPv6. Kéo đường phân cách giữa các bit để đổi prefix. Không có gì rời khỏi trình duyệt của bạn.

Mạng riêng · RFC 1918/24Lớp C · kiểu cũ

254 host dùng được · 192.168.1.1 – 192.168.1.254

  1. 1

    Mask

    /24 là 24 bit 1, rồi đến 8 bit 0

    subnet mask11111111.11111111.11111111.00000000255.255.255.0
  2. 2

    Mạng = địa chỉ AND mask

    Giữ các bit ở vị trí mask có bit 1

    địa chỉ11000000.10101000.00000001.00000000192.168.1.0
    ANDsubnet mask11111111.11111111.11111111.00000000255.255.255.0
    mạng11000000.10101000.00000001.00000000192.168.1.0
  3. 3

    Broadcast = mạng OR wildcard

    Đặt mọi bit host thành 1

    mạng11000000.10101000.00000001.00000000192.168.1.0
    ORwildcard00000000.00000000.00000000.111111110.0.0.255
    broadcast11000000.10101000.00000001.11111111192.168.1.255
  4. 4

    Số host = 232 − 24 − 2 = 256 − 2 = 254

    Không thể cấp địa chỉ mạng và địa chỉ broadcast cho thiết bị

    host đầu tiên 192.168.1.1host cuối cùng 192.168.1.254

Cách tính nhanh. Prefix kết thúc đúng ở ranh giới octet: phần mạng giữ trọn 3 octet (192.168.1) và phần còn lại là bit host.

Subnet và subnet mask là gì?

Subnet (mạng con) là một khối địa chỉ IP có chung các bit đầu, và subnet mask cho biết có bao nhiêu bit như vậy: với 192.168.1.10 và mask 255.255.255.0, 24 bit đầu (192.168.1) chỉ mạng, còn 8 bit cuối (10) chỉ một thiết bị trong mạng đó.

Mỗi địa chỉ IPv4 dài 32 bit. Mask cũng dài 32 bit: một dãy bit 1 liên tiếp phủ phần mạng và các bit 0 phủ phần host, không bao giờ xen kẽ (RFC 1812). Các thiết bị có địa chỉ chung phần bit mạng liên lạc trực tiếp với nhau; mọi địa chỉ khác phải đi qua router.

Trong một subnet, địa chỉ có toàn bộ bit host bằng 0 là địa chỉ của chính mạng đó, còn địa chỉ có toàn bộ bit host bằng 1 là địa chỉ broadcast, nên một subnet thông thường có ít hơn kích thước của nó hai địa chỉ để cấp cho thiết bị (RFC 1122). Một /24 có 256 địa chỉ và 254 host.

Một địa chỉ, hai phần192.168.1.10/24

Subnet này192.168.1.0/24

  • 192.168.1.1
  • 192.168.1.10
  • 192.168.1.11
  • 192.168.1.12
Liên lạc trực tiếp
RouterĐi qua router

Subnet khác192.168.2.0/24

  • 192.168.2.1
  • 192.168.2.10
  • 192.168.2.11
Các bit 1 của mask phủ phần mạng: mọi thiết bị có 24 bit đầu là 192.168.1 đều thuộc cùng một subnet. Địa chỉ ở subnet khác được liên lạc qua router.
Máy tính subnet: 192.168.1.10/24 với địa chỉ mạng, broadcast, dải host dùng được, subnet mask và địa chỉ dạng nhị phânMáy tính subnet: 192.168.1.10/24 với địa chỉ mạng, broadcast, dải host dùng được, subnet mask và địa chỉ dạng nhị phânMọi cách viếtCIDR, subnet mask, wildcard mask, dải địa chỉ hay IPv6, cứ gõ theo dạng bạn đang có.Các bitBit mạng và bit host đặt cạnh nhau; kéo đường ranh giới để thử prefix khác.Kết quảĐịa chỉ mạng, broadcast, host dùng được đầu tiên và cuối cùng, cùng số lượng host.Lập kế hoạchChia mạng, xếp các subnet có kích thước khác nhau, hoặc áp dụng quy tắc của một cloud.
Kết quả tính 192.168.1.10/24: bit mạng và bit host, dải dùng được và các mask. Chọn một số để xem từng phần thể hiện điều gì.

Cách tính subnet và chia subnet trong 4 bước

Để chia dải IP thành các subnet, hãy chọn số subnet hoặc số host cần có, mượn đúng số bit tương ứng từ phần host, rồi đi lần lượt qua mạng theo từng khối có kích thước mới: chia 192.168.1.0/24 thành bốn subnet sẽ được bốn khối /26, mỗi khối 64 địa chỉ và 62 host.

1. Đếm: bốn subnet cần thêm 2 bit mạng (2² = 4), nên /24 thành /26. Nếu tính theo số host, hãy lấy khối nhỏ nhất chứa đủ số host đó: 50 host cần 64 địa chỉ, tức một /26.

2. Kích thước khối: 2^(32 − 26) = 64 địa chỉ mỗi subnet, nên mask là 255.255.255.192.

3. Đi lần lượt: các mạng bắt đầu cứ mỗi 64 địa chỉ: 192.168.1.0, .64, .128 và .192.

4. Hai đầu khối: trong mỗi khối, địa chỉ đầu tiên là địa chỉ mạng, địa chỉ cuối cùng là broadcast, và các host nằm ở giữa. Vậy với 10.67.100.77/26, địa chỉ mạng là 10.67.100.64, các host chạy từ .65 đến .126 và broadcast là .127.

Chia 192.168.1.0/24 thành bốn /26mỗi khối 64 địa chỉ
192.168.1.0/26.1 – .62.63
192.168.1.64/26.65 – .126.127
192.168.1.128/26.129 – .190.191
192.168.1.192/26.193 – .254.255

SubnetHost đầu tiên – Host cuối cùngBroadcast

Cùng phương pháp cho hai câu hỏi thi

10.67.100.77/26octet thứ tư · khối cỡ 64
06412819277
Địa chỉ mạng
10.67.100.64
Host dùng được đầu tiên
10.67.100.65
Host dùng được cuối cùng
10.67.100.126
Broadcast
10.67.100.127
10.67.100.0/17octet thứ ba · khối cỡ 128
0128100
Địa chỉ mạng
10.67.0.0
Host dùng được đầu tiên
10.67.0.1
Host dùng được cuối cùng
10.67.127.254
Broadcast
10.67.127.255

Không phải địa chỉ mạng: 10.67.100.0/17 → 10.67.0.0/17

Mượn 2 bit host cho ra bốn khối 64 địa chỉ. Với bất kỳ địa chỉ nào, octet nơi prefix kết thúc được cắt thành các khối như vậy: khối chứa địa chỉ cho ra địa chỉ mạng, khối kế tiếp trừ 1 cho ra broadcast.

Ký hiệu CIDR: ý nghĩa của /24

Ký hiệu CIDR viết một mạng dưới dạng địa chỉ, dấu gạch chéo và số bit mạng: 192.168.1.0/24 nghĩa là 24 bit đầu là phần mạng, tương đương mask 255.255.255.0 (RFC 4632).

Mỗi bước một bit làm khối lớn gấp đôi hoặc nhỏ đi một nửa: một /23 bằng hai /24 (512 địa chỉ), một /25 bằng nửa /24 (128). Một /16 chứa 256 khối /24, và một /8 chứa 65.536 khối như vậy.

CIDR thay thế các lớp A, B và C cũ từ năm 1993 (RFC 1519, nay là RFC 4632). Kể từ đó không thể đoán mask từ octet đầu tiên, nên mask luôn được ghi rõ; máy tính chỉ hiển thị lớp cũ như một thông tin lịch sử.

Mỗi bit thêm vào chia đôi khốiđịa chỉ
  1. /221.024255.255.252.04 khối /24
  2. /23512255.255.254.02 khối /24
  3. /24256255.255.255.01 khối /24
  4. /25128255.255.255.128½ khối /24
  5. /2664255.255.255.192¼ khối /24
Một /22 bằng bốn /24; một /26 bằng một phần tư /24. Mask của chúng: 255.255.252.0, 255.255.254.0, 255.255.255.0, 255.255.255.128 và 255.255.255.192.

Bảng tra subnet mask: từ /0 đến /32

Mọi prefix IPv4 kèm subnet mask, wildcard mask, số địa chỉ và số host dùng được. Chọn một dòng để tính nó trong máy tính.

Số host dùng được bằng số địa chỉ trừ đi địa chỉ mạng và địa chỉ broadcast, ngoại trừ /31, nơi cả hai địa chỉ đều là host trên một liên kết point-to-point (RFC 3021), và /32, chỉ một host duy nhất.

PrefixSubnet MaskWildcardSố địa chỉHost dùng đượcSo với một /24
/00.0.0.0255.255.255.255255.255.255.2554.294.967.2964.294.967.294Toàn bộ địa chỉ IPv416.777.216 khối /24
/1128.0.0.0127.255.255.255127.255.255.2552.147.483.6482.147.483.6468.388.608 khối /24
/2192.0.0.063.255.255.25563.255.255.2551.073.741.8241.073.741.8224.194.304 khối /24
/3224.0.0.031.255.255.25531.255.255.255536.870.912536.870.9102.097.152 khối /24
/4240.0.0.015.255.255.25515.255.255.255268.435.456268.435.4541.048.576 khối /24
/5248.0.0.07.255.255.2557.255.255.255134.217.728134.217.726524.288 khối /24
/6252.0.0.03.255.255.2553.255.255.25567.108.86467.108.862262.144 khối /24
/7254.0.0.01.255.255.2551.255.255.25533.554.43233.554.430131.072 khối /24
/8255.0.0.00.255.255.2550.255.255.25516.777.21616.777.214Cỡ lớp A cũ65.536 khối /24
/9255.128.0.00.127.255.2550.127.255.2558.388.6088.388.60632.768 khối /24
/10255.192.0.00.63.255.2550.63.255.2554.194.3044.194.30216.384 khối /24
/11255.224.0.00.31.255.2550.31.255.2552.097.1522.097.1508.192 khối /24
/12255.240.0.00.15.255.2550.15.255.2551.048.5761.048.5744.096 khối /24
/13255.248.0.00.7.255.2550.7.255.255524.288524.2862.048 khối /24
/14255.252.0.00.3.255.2550.3.255.255262.144262.1421.024 khối /24
/15255.254.0.00.1.255.2550.1.255.255131.072131.070512 khối /24
/16255.255.0.00.0.255.2550.0.255.25565.53665.534Cỡ lớp B cũ256 khối /24
/17255.255.128.00.0.127.2550.0.127.25532.76832.766128 khối /24
/18255.255.192.00.0.63.2550.0.63.25516.38416.38264 khối /24
/19255.255.224.00.0.31.2550.0.31.2558.1928.19032 khối /24
/20255.255.240.00.0.15.2550.0.15.2554.0964.09416 khối /24
/21255.255.248.00.0.7.2550.0.7.2552.0482.0468 khối /24
/22255.255.252.00.0.3.2550.0.3.2551.0241.0224 khối /24
/23255.255.254.00.0.1.2550.0.1.2555125102 khối /24
/24255.255.255.00.0.0.2550.0.0.255256254Cỡ lớp C cũ1 khối /24
/25255.255.255.1280.0.0.1270.0.0.1271281262 trong mỗi /24
/26255.255.255.1920.0.0.630.0.0.6364624 trong mỗi /24
/27255.255.255.2240.0.0.310.0.0.3132308 trong mỗi /24
/28255.255.255.2400.0.0.150.0.0.15161416 trong mỗi /24
/29255.255.255.2480.0.0.70.0.0.78632 trong mỗi /24
/30255.255.255.2520.0.0.30.0.0.34264 trong mỗi /24
/31255.255.255.2540.0.0.10.0.0.122Liên kết point-to-point128 trong mỗi /24
/32255.255.255.2550.0.0.00.0.0.011Một host duy nhất256 trong mỗi /24

Các prefix IPv6 thường gặp

PrefixCách dùng thường gặpSố địa chỉSố subnet /64
/32Khối cấp cho một ISP79.228.162.514.264.337.593.543.950.3362964.294.967.296
/48Một site (doanh nghiệp)1.208.925.819.614.629.174.706.17628065.536
/56Một site (hộ gia đình)4.722.366.482.869.645.213.696272256
/64Một subnet (SLAAC)18.446.744.073.709.551.6162641
/127Liên kết giữa hai router221–
/128Một địa chỉ120–

Có bao nhiêu host dùng được? /30, /31 và /32

Một /30 có 4 địa chỉ và 2 host dùng được, một /31 có 2 địa chỉ và cả hai đều dùng được trên liên kết point-to-point, còn một /32 chỉ là một địa chỉ: một host duy nhất.

Quy tắc 2^n − 2 đúng từ /0 đến /30. Với liên kết giữa hai router, RFC 3021 cho phép dùng /31 không có địa chỉ mạng hay địa chỉ broadcast, chỉ tốn một nửa số địa chỉ so với /30. Cisco hỗ trợ điều này trên các liên kết point-to-point (Cisco).

Một /32 là host route (route đến đúng một host): một địa chỉ, dùng cho interface loopback và các route chỉ gồm một địa chỉ. Các cloud giữ lại nhiều hơn hai địa chỉ trong mỗi subnet, nên số host của chúng khác đi; xem phần cloud bên dưới.

Các địa chỉ được dùng vào đâu/30 · /31 · /32

198.51.100.4/302 dùng được

.4mạng.5host.6host.7broadcast

198.51.100.4/312 dùng đượcliên kết point-to-point (RFC 3021)

.4host.5host

198.51.100.4/321 dùng đượcmột host

.4host
Một /30 mất một nửa trong bốn địa chỉ cho địa chỉ mạng và địa chỉ broadcast. Một /31 trên liên kết giữa hai router giữ được cả hai, còn /32 chỉ là một địa chỉ.

Wildcard mask: nghịch đảo của subnet mask

Wildcard mask là subnet mask được đảo ngược mọi bit, nên 255.255.255.0 thành 0.0.0.255: bit 0 phải khớp, còn bit 1 được bỏ qua. Access list của Cisco và lệnh network của OSPF dùng wildcard mask.

Với một mask thông thường, wildcard bằng 255.255.255.255 trừ đi mask: 255.255.240.0 của /20 cho ra 0.0.15.255. Trong một access list, permit 10.1.0.0 0.0.255.255 khớp mọi địa chỉ từ 10.1.0.0 đến 10.1.255.255 (Cisco).

Gõ wildcard sau một địa chỉ (10.1.0.0 0.0.255.255) và máy tính sẽ đọc nó thành prefix tương ứng, /16.

Một dòng access list, từng bit mộtpermit 10.1.0.0 0.0.255.255
  • Phải khớp
  • Giá trị bất kỳ

Khớp từ 10.1.0.0 đến 10.1.255.255

Mask và wildcard
/8255.0.0.00.255.255.255
/16255.255.0.00.0.255.255
/20255.255.240.00.0.15.255
/24255.255.255.00.0.0.255
/27255.255.255.2240.0.0.31
Trong wildcard, bit 0 phải khớp với địa chỉ còn bit 1 có thể là bất kỳ giá trị nào, nên 0.0.255.255 cho phép hai octet cuối thay đổi tùy ý.

VLSM: chia subnet nhiều kích thước trong một mạng

VLSM (Variable-Length Subnet Masking, subnet mask có độ dài thay đổi) cấp cho mỗi subnet đúng kích thước nó cần: trong một /24, mạng Wi-Fi 100 host nhận một /25, văn phòng 50 host nhận một /26, máy chủ một /27 và liên kết router một /30, mà vẫn còn dư địa chỉ.

Công cụ lập kế hoạch đặt subnet lớn nhất trước, mỗi subnet tiếp theo ở địa chỉ trống kế tiếp, nên mọi khối đều bắt đầu ở ranh giới đúng bằng kích thước của nó và không khối nào chồng lấn. Router buộc phải hỗ trợ các mask có độ dài khác nhau trong cùng một mạng kể từ RFC 1812 (1995).

Công cụ cho biết kế hoạch dùng bao nhiêu địa chỉ và phục vụ bao nhiêu host, liệt kê các khối còn trống, và chỉ ra subnet không vừa khi mạng quá nhỏ.

Một /24, bốn kích thướclớn nhất trước
Wi-Fi/25Văn phòng/26Máy chủ/27
  1. Wi-Fi100 host192.168.1.0/25192.168.1.1 – 192.168.1.126
  2. Văn phòng50 host192.168.1.128/26192.168.1.129 – 192.168.1.190
  3. Máy chủ20 host192.168.1.192/27192.168.1.193 – 192.168.1.222
  4. Liên kết router2 host192.168.1.224/30192.168.1.225 – 192.168.1.226
  5. Trống192.168.1.228/30 · 192.168.1.232/29 · 192.168.1.240/28

Đã dùng 228 trên 256 địa chỉ, còn trống 28

Khi xếp khối lớn nhất trước, mọi khối đều bắt đầu ở ranh giới đúng bằng kích thước của nó: /25 ở .0, /26 ở .128, /27 ở .192, /30 ở .224. Phần còn lại là ba khối trống.

Chia subnet IPv6: /48, /56 và /64

Trong IPv6, một subnet thường là /64, và mỗi site được cấp một /48 (65.536 subnet) hoặc một /56 (256 subnet) để chia. Không có địa chỉ broadcast: chỉ có địa chỉ anycast Subnet-Router và 128 interface ID cao nhất, dành cho anycast, là bị giữ lại.

Một /64 là kích thước mà cơ chế tự cấp địa chỉ (SLAAC) cần: 64 bit cuối là interface ID của thiết bị (RFC 4291, RFC 7421). Prefix dài hơn vẫn hợp lệ (RFC 7608), và /127 là phiên bản IPv6 của /31 cho liên kết giữa các router (RFC 6164).

Thực hành tốt nhất của RIPE cho ISP là cấp /48 cho doanh nghiệp và /48 hoặc /56 cho hộ gia đình, đồng thời khuyến cáo mạnh mẽ không cấp prefix nào dài hơn /56 (RIPE-690). Hãy chia subnet theo ranh giới 4 bit (/52, /56, /60) để mỗi subnet gồm trọn các chữ số hex và DNS ngược được ủy quyền gọn gàng.

Một địa chỉ, bốn cấp2001:db8:abcd:12::/64
PrefixSố bit đến /64Số /64 bên trongSố địa chỉ
/32324.294.967.29679.228.162.514.264.337.593.543.950.336296
/481665.5361.208.925.819.614.629.174.706.176280
/5682564.722.366.482.869.645.213.696272
/640118.446.744.073.709.551.616264
Số lượng chính xác. Mỗi chữ số hex là 4 bit: một /48 còn lại 4 chữ số, từ 0000 đến ffff, cho 65.536 subnet.

Subnet trên cloud: vì sao một /24 trên AWS có 251 địa chỉ dùng được

AWS và Azure giữ lại 5 địa chỉ trong mỗi subnet, Google Cloud giữ 4 và Oracle Cloud giữ 3, nên một /24 có 251 địa chỉ dùng được trên AWS hoặc Azure, 252 trên Google Cloud và 253 trên Oracle Cloud.

AWS giữ địa chỉ mạng, +1 cho router VPC, +2 cho DNS, +3 để dùng sau này và địa chỉ cuối cùng, đồng thời cho phép subnet từ /16 đến /28 (AWS). Azure giữ địa chỉ mạng, gateway, hai địa chỉ cho Azure DNS và địa chỉ cuối, cho phép từ /2 đến /29 (Azure).

Google Cloud giữ hai địa chỉ đầu và hai địa chỉ cuối của dải chính (primary range), cho phép từ /4 đến /29, và không giữ địa chỉ nào trong dải phụ (secondary range) (Google Cloud). Oracle Cloud giữ địa chỉ mạng, gateway và địa chỉ cuối, cho phép từ /16 đến /30 (Oracle). Chọn một cloud trong máy tính để áp dụng quy tắc của nó khi chia subnet hoặc lập kế hoạch VLSM.

Các địa chỉ mỗi cloud giữ lại trong 10.0.1.0/24
  • AWS251 dùng được

    .0mạng.1router.2DNS.3dự phòngthêm 250.254.255cuối
  • Azure251 dùng được

    .0mạng.1gateway.2DNS.3DNSthêm 250.254.255cuối
  • Google Cloud252 dùng được

    .0mạng.1gateway.2.3thêm 250.254dự phòng.255cuối
  • Oracle Cloud253 dùng được

    .0mạng.1gateway.2.3thêm 250.254.255cuối
  • Địa chỉ mạng
  • Router hoặc gateway
  • DNS
  • Dự phòng cho sau này
  • Địa chỉ cuối
Mọi cloud đều giữ địa chỉ mạng, gateway và địa chỉ cuối; AWS và Azure giữ thêm hai địa chỉ ở đầu, Google Cloud thêm địa chỉ áp chót.

Dải IP private và các dải đặc biệt

Mạng riêng (private) dùng 10.0.0.0/8, 172.16.0.0/12 và 192.168.0.0/16 (RFC 1918); carrier-grade NAT của các nhà cung cấp internet dùng 100.64.0.0/10, còn các khối khác được dành cho loopback, link-local, tài liệu, đo hiệu năng (benchmarking) và multicast.

Máy tính đối chiếu toàn bộ khối với sổ đăng ký địa chỉ đặc biệt của IANA (IPv4, IPv6), không chỉ địa chỉ đầu tiên. 10.0.0.0/7 một nửa là private, một nửa là địa chỉ công cộng, còn 172.0.0.0/11 chứa dải private 172.16.0.0/12, nên máy tính cho biết mỗi khối chứa những gì.

172.16.0.0/12 kéo dài đến 172.31.255.255, không chỉ là 172.16.x.x. 100.64.0.0/10 không phải dải private như các dải kia: nó chỉ dành cho đoạn kết nối giữa NAT của nhà cung cấp và khách hàng của họ (RFC 6598).

Không gian địa chỉ IPv4các khối dùng cho mục đích đặc biệt
  • Mạng riêng
  • Carrier-grade NAT
  • Loopback và link-local
  • Tài liệu và đo hiệu năng
  • Multicast
  • Dành riêng
  • 0.0.0.0/8Mạng này16.777.216 địa chỉ
  • 10.0.0.0/8Mạng riêng16.777.216 địa chỉ
  • 100.64.0.0/10Carrier-grade NAT4.194.304 địa chỉ
  • 127.0.0.0/8Loopback16.777.216 địa chỉ
  • 169.254.0.0/16Link-local65.536 địa chỉ
  • 172.16.0.0/12Mạng riêng1.048.576 địa chỉ
  • 192.0.2.0/24Tài liệu256 địa chỉ
  • 192.168.0.0/16Mạng riêng65.536 địa chỉ
  • 198.18.0.0/15Đo hiệu năng131.072 địa chỉ
  • 198.51.100.0/24Tài liệu256 địa chỉ
  • 203.0.113.0/24Tài liệu256 địa chỉ
  • 224.0.0.0/4Multicast268.435.456 địa chỉ
  • 240.0.0.0/4Dành riêng268.435.456 địa chỉ
Mỗi khối được vẽ đúng vị trí của nó trong 4.294.967.296 địa chỉ IPv4. Các khối nhỏ được vẽ rộng hơn tỷ lệ thật để có thể nhìn thấy.

Máy tính subnet: hỏi và đáp

Một /24 có bao nhiêu host dùng được?

254. Một /24 có 256 địa chỉ: 2 mũ 8, vì có 8 bit host. Địa chỉ đầu tiên, như 192.168.1.0, là địa chỉ mạng và địa chỉ cuối cùng, 192.168.1.255, là địa chỉ broadcast, nên còn 254 địa chỉ cho thiết bị. Trên AWS hoặc Azure, một /24 có 251 địa chỉ dùng được, vì hai cloud này giữ lại 5 địa chỉ trong mỗi subnet.

Subnet mask của /27 là gì?

255.255.255.224. Một /27 có 27 bit mạng, nên mask là 27 bit 1 theo sau là 5 bit 0, tức 224 ở octet cuối. Khối này có 32 địa chỉ với 30 host dùng được, và wildcard mask của nó là 0.0.0.31. Bảng tra trên trang này liệt kê mask cho mọi prefix từ /0 đến /32.

Làm sao tìm độ dài prefix của subnet từ subnet mask?

Đếm số bit 1 trong mask. 255.255.255.0 có 24 bit 1, nên độ dài prefix là /24; 255.255.240.0 có 8 + 8 + 4 bit 1, nên là /20. Gõ địa chỉ và mask cùng lúc, như 10.1.2.3 255.255.240.0, và máy tính sẽ chuyển đổi. Mask có các bit 1 bị ngắt quãng, như 255.0.255.0, là không hợp lệ.

Làm sao tính địa chỉ mạng từ địa chỉ IP và subnet mask?

Kết hợp địa chỉ và mask từng bit bằng phép AND: chỗ nào mask có bit 1 thì bit của địa chỉ giữ nguyên, chỗ nào mask có bit 0 thì bit đó thành 0. Với 10.67.100.77/26, kết quả là 10.67.100.64. Địa chỉ broadcast thì ngược lại, đặt chính các bit host đó thành 1: 10.67.100.127. Máy tính hiển thị cả hai bước ở dạng nhị phân.

Vì sao một /31 có hai host dùng được?

Vì RFC 3021 cho phép /31 bỏ địa chỉ mạng và địa chỉ broadcast trên liên kết point-to-point, nơi chỉ có hai thiết bị và broadcast chỉ có thể đến được đầu bên kia. Cả hai địa chỉ trở thành host, nên một liên kết giữa hai router chỉ dùng 2 địa chỉ thay vì 4 địa chỉ như /30. Chỉ dùng /31 trên những liên kết như vậy.

Có dùng được subnet zero và subnet toàn bit 1 không?

Có. Khuyến nghị chia subnet thời đầu (RFC 950, năm 1985) nói không nên dùng hai subnet này, nhưng RFC 1878 gọi cách làm đó là lỗi thời, và Cisco IOS đã cho phép subnet zero theo mặc định từ phiên bản 12.0. Vì vậy chia một /24 thành bốn /26 sẽ được bốn subnet dùng được, kể cả 192.168.1.0/26, chứ không phải hai.

Subnet mask và wildcard mask khác nhau thế nào?

Chúng là nghịch đảo của nhau. Trong subnet mask, các bit 1 đánh dấu bit mạng, như 255.255.255.0; trong wildcard mask, các bit 1 đánh dấu bit được bỏ qua, như 0.0.0.255. Router dùng subnet mask trên interface, còn access list của Cisco và lệnh network của OSPF dùng wildcard mask. Máy tính hiển thị cả hai cho mọi khối.

Chia một /16 thành các subnet /24 thì được bao nhiêu subnet?

256. Mỗi bit thêm vào làm số subnet tăng gấp đôi, và đi từ /16 đến /24 là thêm 8 bit: 2 mũ 8 là 256. Mỗi /24 có 254 host dùng được, nên /16 cho 65.024 host khi chia thành các /24, hoặc 65.534 host nếu là một mạng duy nhất. Dùng thẻ Chia subnet để liệt kê 256 mạng đó.

/64 trong IPv6 là gì, và một /48 chứa bao nhiêu /64?

Một /64 là subnet IPv6 tiêu chuẩn: 64 bit prefix mạng và 64 bit interface ID, kích thước mà cơ chế tự cấp địa chỉ (SLAAC) cần. Nó chứa 18.446.744.073.709.551.616 địa chỉ. Một /48, khối thường cấp cho một site doanh nghiệp, chứa 65.536 subnet /64, còn một /56 chứa 256.

Khi tính subnet online ở đây, dữ liệu tôi nhập có bị gửi đi đâu không?

Không. Máy tính chạy hoàn toàn trong trình duyệt của bạn: địa chỉ, mask và kế hoạch đều được tính trên thiết bị của bạn và không bao giờ được gửi cho chúng tôi hay bất kỳ ai. Liên kết bạn sao chép chứa mạng ngay trong địa chỉ của nó để mở lại đúng kết quả, nên chỉ chia sẻ liên kết ở nơi bạn sẵn sàng chia sẻ chính mạng đó.